Là một huyện có nhiều xã miền núi của tỉnh Hà Nam, trong 5 năm qua, huyện Kim Bảng thực hiện hiệu quả chương trình 13 – CTr/TU giúp sản xuất nông – lâm – thuỷ sản phát triển khá toàn diện. Tính đến 2010 cơ cấu ngành nông nghiệp của huyện đạt theo các lĩnh vực: chăn nuôi thuỷ sản đạt 43,3%; trồng trọt 52,1% và dịch vụ là 4,6%, giá trị sản xuất nông lâm thủy sản tăng bình quân 4,1%/năm. Với trồng trọt thì tỷ lệ lúa lai đạt 40% diện tích; lúa chất lượng đạt 26% diện tích, chuyển dịch đất cốt cao, đất mạ mùa sang trồng cây màu, cây hàng hoá xuất khẩu đạt hiệu quả cao. Năng suất lúa bình quân đạt 117,8 tạ/ha/năm góp phần đảm bảo an ninh lương thực. Đẩy mạnh phong trào xây dựng cánh đồng giá trị 50 triệu đồng/ha và điều phấn khởi đến nay đạt 80 triệu đồng/ha được mở rộng diện tích từ 1060ha (2005) lên 25000ha (2010), nâng giá trị canh tác trên 1ha canh tác đạt 73 triệu đồng. Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2010 là 70.517 tấn, duy trì diện tích cây trồng vụ đông từ 2800 – 3000 ha, xây dựng và quy hoạch vùng sản xuất 3 vụ, 2 vụ. Dựa vào tiềm năng từ diện tích đồi rừng, huyện khuyến khích bà con tích cực cải tạo vườn tạp trồng các loại cây ăn quả cho giá trị kinh tế như nhãn, na, vải, xoài…, trồng cỏ voi để phục vụ chăn nuôi dê, bò, đồng thời cũng đã trồng được 170,64ha rừng. Bên cạnh đó chăn nuôi thủy sản cũng phát triển mạnh, nhất là chăn nuôi tập trung ở các trang trại, chăn nuôi theo phương pháp công nghiệp, bán công nghiệp, các vùng sản xuất đa canh. Một số đàn nuôi vượt chỉ tiêu, như: lợn vượt 16,4%; trâu, bò vượt 14,6%; gia cầm vượt 9,2%. Các điểm chăn nuôi thủy sản tập trung ở Thi Sơn, Nhật Tân, Đồng Hóa, Ba Sao, Văn Xá cho hiệu quả cao. Xác định việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp là việc làm cần thiết huyện tiếp nhận chuyển giao cho 16.770 lượt người các kỹ thuật về lĩnh vực chăn nuôi, trồng trọt, nuôi trồng thủy sản. Áp dụng nhiều mô hình mới như lúa chất lượng, cây trồng hàng hóa xuất khẩu, đưa cơ giới hóa vào đồng ruộng như máy gặt đập liên hoàn, máy gieo sạ lúa. Trong chăn nuôi thực hiện cải tạo đàn bò vàng; đàn dê; lợn nái ngoại, nuôi tôm càng xanh, cá rô đồng, một số đối tượng nuôi mới đặc sản quý hiếm. Huyện khai thác 127 tỷ đồng cho 11.900 lượt hộ nghèo vay để phát triển sản xuất. Đồng thời đề án đào tạo nghề và giải quyết việc làm đã mở 2187 lớp đào tạo nghề ngắn hạn cho 10.447 lượt người, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 34%; giải quyết việc làm thêm cho 30.815 lao động, nâng hệ số sử dụng thời gian lao động ở nông thôn lên 85%, góp phần tích cực trong việc thực hiện chính sách phát triển ngành nghề phụ ở nông thôn.Trong giai đoạn 2010 – 2015 huyện đào tạo và khuyến khích mở nghề, truyền nghề với phương châm: đào tạo lao động theo địa chỉ, giỏi một nghề biết nhiều nghề.
Để sản xuất nông nghiệp được phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn tới huyện sẽ hoàn thiện quy hoạch sản xuất nông nghiệp vùng 3 vụ, 2 vụ, vùng sản xuất đa canh. Mở rộng các vùng sản xuất chuyên canh tập trung, đảm bảo diện tích lúa lai trên 40%, lúa chất lượng trên 30%, mở rộng diện tích cây trồng hàng hóa và cấy xuất khẩu, duy trì diện tích cây vụ đông 2800ha/năm. Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, từng bước cơ giới hóa các khâu làm đất, gieo trồng thu hoạch. Đưa chăn nuôi thủy sản trở thành ngành chính, khuyến khích đầu tư xây dựng trang trại quy mô vừa và lớn, khu chăn nuôi tập trung xa khu dân cư theo địa bàn từng cụm dân cư gắn với bảo vệ môi trường, phòng chống dịch bệnh. Sử dụng hiệu quả 1.200ha mặt nước và 800ha vùng chuyển dịch cho chăn nuôi thủy sản chiếm 48% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp. Trồng 100ha rừng, bảo vệ, khoanh nuôi gắn hiệu quả kinh tế từ khu vực đồi rừng.
Mai Huê
Nguồn: khuyennongvn.gov.vn



