U ám ở “xóm người điên”

Tháng 11 24, 2011 | Viết bình luận

Chiều tà vắt vẻo trên đầu ngọn núi đá vôi, tôi mới mò mẫm vào đến thị trấn Ba Sao, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Khói chiều bảng lảng che kín những con ngõ nhỏ sâu hun hút như những cái rãnh địa đạo lộ thiên cuốn quanh những ngôi nhà thấp lè tè của  xóm 5 và xóm 6. Xóm núi cuối ngày chỉ thấy khung cảnh tiêu điều và ngơ ngác những phận người…điên.

Ám ảnh

 Tôi bắt đầu khơi chuyện ngay tức thì khi đối diện với Bí thư chi bộ xóm 5 là bà Lê Thị Kiệm. Bà khéo “đưa đẩy” vấn đề hơn tôi nghĩ khi chỉ muốn nói với tôi rằng: “Dân tình ở đây cơ cực lắm. Cuộc sống chưa được đủ đầy, nếu đem so với cái sự phát triển chóng mặt của xã hội thì chúng tôi cứ gọi là thụt lùi dần”. Thấy tôi cảm thông bà lại lắc đầu, chép miệng: “Cái điều anh hỏi ấy, xóm tuy nhỏ nhưng người không bình thường thì không ít đâu. Ra đường không khéo là chạm mặt nhau, chạm người điên ấy”. Để thí dụ cho câu nói của mình bà Kiệm đưa bàn tay lên trước mặt vừa bấm đốt tay vừa nói những cái tên lạ lẫm với tôi. Nào vợ chồng ông Loan Phượng, nhà ông Êm, nhà Tý Nhạn… Xong, bà đứng phắt dậy bảo: “Anh đi theo tôi rồi biết”.

Bà Kiệm bước thoăn thoắt đi sâu xuống con ngõ mà tôi ví như cái “địa đạo lộ thiên” rồi ngoặt vào ngôi nhà trống trải. Bà giới thiệu với tôi gia chủ là bà Nguyễn Thị Hà và cô con gái Bùi Thị Thảo, SN 1992 hiện đang bị tâm thần. Ngồi xuống ghế tôi có cảm giác lạnh toát chạy dọc sống lưng. Bà Hà tay rót nước mà cứ run lẩy bẩy khiến cái chén nước nhỏ xíu sóng sánh, giàn giụa nước. Bà bần thần nhìn khách rồi kể chuyện, bà bấm từng tiếng như một cái máy rời rạc.

 Bà kể, trước đây hai vợ chồng bà đều là những chiến sĩ thanh niên xung phong chiến đấu ở tuyến lửa. Sau ngày đất nước thống nhất hai người xây dựng gia đình với nhau và đều đặn cho ra đời 4 người con. Nhìn sang đứa con gái điên dại bà cứ để mặc cho những giọt nước mắt mặn mòi chảy tràn trên khuôn mặt nhăn nheo mà nghẹn ngào: “Nó là đứa con út của tôi. Nó học giỏi lắm, từ nhỏ đến lớn năm nào cũng là học sinh tiên tiến cả đấy. Thế mà đến năm lớp 10 bỗng dưng nó quay ra ốm, lúc khỏi thì trở nên ngây dại như bây giờ”.

Trong cơn điên loạn Thảo đập phá chẳng thiếu thứ gì thậm chí là đánh cả cha mẹ. Thương con bà Hà chỉ biết cắn bật máu môi chứ chẳng làm được gì hơn. Đưa con đi chạy chữa thì người ta bảo con bà bị tâm thần phân liệt, nặng lắm rồi.

dien 300x168 U ám ở xóm người điên Tôi cùng bà Kiệm lại lê những bước chân nặng nhọc sang một mái nhà khác, một trường hợp mà bà bảo “đau khổ” nhất ở cái xóm 5, thị trấn Ba Sao. Trong gian nhà tối nhìn tờ mờ thấy mặt người đối diện, bà Phạm Thị Bình cũng xót xa, cay đắng tột cùng khi kể về gia cảnh nhà mình cho tôi nghe. Xuân xanh 18, bà lập gia đình với người chồng là ông Trần Mạnh Thắng. Sau ngày cưới không lâu thì đôi vợ chồng trẻ đưa nhau lên Thái Nguyên lập nghiệp. Cuộc đời khai khẩn cứ chật vật, vất vả quanh năm. Bà vẫn nhớ như in giai đoạn mang thai đứa con đầu lòng đói kém đến thắt ruột, thắt gan.

Năm 1969, cô con gái đầu lòng ra đời với cái tên Trần Thị Minh. Như những đứa bé khác khi mới sinh Minh cũng khỏe mạnh, bụ bẫm, xinh xẻo lắm. Ấy vậy mà càng lớn Minh lại có những biểu hiện không bình thường, chân tay cứ teo tóp dần rồi một ngày xấu trời thì ngồi im một chỗ không đi lại được. Ông bà tiếp tục sinh đứa thứ 2 vào mùa đông giá rét năm 1971. Thế rồi cái vận hạn như đi theo rãnh bánh xe phũ phàng hằn trước đó. Cô con gái thứ 2, Trần Thị Ánh cũng “bắt chước” chị phát triển không bình thường. 4 năm sau cô con gái Trần Thị Sáng ra đời, rồi 5 năm sau là cô út Trần Thị Suốt cũng oe oe cất tiếng khóc. Được cho là “thông minh” nhất nhà thì Trần Thị Sáng đến nay cũng không làm được việc gì còn cô em út tên Suốt thì rơi vào bản khắc tương tự của chị cả, chị hai.

Đau đớn đến rụng rời, gia đình bà quyết định ôm con trở về cố hương dựng căn nhà tạm trên đất ông cha để sống. Ông Thắng bỏ ra đi để lại 5 mẹ con bà Bình chiến đấu với bệnh tật bằng mấy sào ngô, sắn. Tôi hỏi bà Bình có chế độ gì không nhưng bà cứ sụt sùi không nói được thành lời. Bà Kiệm lúc ấy mới bảo: “Mỗi tháng được 120.000 đồng tiền phụ cấp cho mỗi đứa con tâm thần. Ngoài ra thì bà ấy cũng có một ít lương hưu công nhân”. Số tiền ít ỏi ấy cứ cấu véo dần cho những lần vào viện thuốc men. Không biết những con người ấy cơ cực đến dường nào.

Cách nhà bà Hà chỉ vài bước chân là nhà của hai mẹ con Nguyễn Thị Loan và Dương Thị Nụ. Trong ngôi nhà 3 gian xiêu vẹo Dương Thị Nụ ngồi đờ đẫn một mình như một cái xác không hồn. Chứng rối loạn thần kinh khiến Nụ không nhạy bén với cái cảm giác, cái âm thanh của đời sống hiện thực thường ngày. Bà Loan thì cũng điên dại dữ dằn bỏ đi suốt ngày không biết làm gì, ở đâu. Tôi ám ảnh, ám ảnh đến cay xè mắt khi chứng kiến Nụ ngồi vạ vật ở nền nhà lạnh ngắt. Chẳng biết hỏi gì mà có hỏi thì Nụ cũng chỉ cười, cái kiểu cười khiến tôi phải giật mình, ánh mắt cô gái cắt cứa như một vật nhọn vô hồn.

Cuối đời chăm con điên dại

80 tuổi, giọng bà Phạm Thị Nhẫn đã thều thào lắm rồi. Một nửa có lẽ vì tuổi tác còn nửa kia là vì người con trai của bà đã 50 năm sống trong điên dại khiến bà phải bận lòng. Không đau lòng, xót xa sao được khi chính đứa con mình sinh ra mà ngày nào khi mỗi sáng tinh sương mở mắt đã trông thấy con ở phía trong song sắt. Mà cái song sắt ấy, lại do chính những bậc sinh thành làm ra một cách “bần cùng bất đắc dĩ” để giam nhốt đứa con bất hạnh của mình. Đứa con trai ấy là Vũ Xuân Việt đã sống trong cảnh dại dại, điên điên hơn một nửa đời người.

Năm Việt 10 tuổi bỗng dính trận cảm lạnh rồi không hiểu cơn cớ gì ảnh hưởng đến thần kinh. Tuổi thơ của Việt cứ “chạy sô” hết từ Trâu Quỳ về Thường Tín, qua Cao Đà, sang Ba Thá cho đến khi các bác sĩ tâm thần cũng đành phải lắc đầu, bó tay. Bệnh tình cứ nặng dần, từ một người hiền lành Việt biến thành con quỷ dữ suốt ngày “mua vui” bằng đập phá la hét.

Đến nay, đã tròn 20 năm Việt bị giam nhốt trong 4 bức tường vôi. Cái gian phòng bé xíu, cảm giác như sẽ ngạt thở nếu ngồi trong đó chỉ vài tiếng đồng hồ. Căn phòng bé như một cái miệng lò vôi chừng 4-5m2, phía trong là cái giường được đổ bằng bê tông láng xi-măng phẳng lừ. Việt nằm quay mặt vào tường vật vờ, èo oặt như một con thú hoang bỏ đói lâu ngày. Bà Nhẫn rưng rức bảo: “Tôi đâu có đành lòng làm như thế với con nhưng không còn cách nào khác. Chữa trị không khỏi mà thả nó ra đường thì nó lên cơn rồi giết người thì biết làm sao. Khổ tâm lắm anh ạ”. Tôi nghe giọng bà nói cảm giác nỗi nhói buốt cắn cào ruột gan thế nhưng không thấy nước mắt bà khóc. Có lẽ bà khóc đến cạn khô hay nước mắt đã chảy ngược vào trong không ai biết!.

Tương tự cảnh đời như thế tôi ngồi nói chuyện với vợ chồng ông Lại Văn Tiếp và bà Hoàng Thị Sen. Hai vợ chồng già đã xấp xỉ ngưỡng tuổi “xưa nay hiếm” nhưng vẫn phải ngày ngày chăm bẵm cô con gái đã ngoài tuổi 30. Người chiến binh oai dũng từng tham chiến ở chiến trường Đông Nam Bộ, rèn rũa trong lửa đạn vậy mà giữa thời bình ông Tiếp lại bật khóc vì thương con. Nhìn Lại Thị Hằng người con gái có lớn mà chẳng có khôn, ông như quặn thắt: “Mỗi lần nó lên cơn là tôi lại sợ. Sợ nó lao vào đánh người vô cớ, sợ nó làm cái chuyện gì đó dại dột. Mỗi lần nó tức giận phải làm mọi cách để xoa dịu thật nhanh”. Trường hợp của Lại Thị Hằng là một trong số ít người đã được xác định nguyên nhân có di chứng của chất độc da cam.

Rất muộn, tôi mới tìm đến được UBND thị trấn Ba Sao. Ông Nguyễn Xuân Văn, Phó Chủ tịch thị trấn này thừa nhận rằng, cuộc sống của những gia đình này là vô cùng khó khăn. Mặc dù, phía chính quyền địa phương đã tạo mọi điều kiện đến giúp đỡ, động viên nhưng chỉ vơi bớt được phần nào. Điều khiến tôi và ông đều gật đầu băn khoăn là hiện nay chỉ có vài trường hợp được xác định bị di chứng của chất độc da cam còn lại nguyên nhân vẫn chưa được làm sáng tỏ.

Cả ngày lang thang ở xóm núi với hàng chục người điên khiến tôi ám ảnh suốt dọc đường về. Bóng tối choàng xuống chớp nhoáng như chụp một chiếc áo bịt kín bóng đèn. Tôi dừng lại nhìn vào con đường quanh co, bóng tối mù mờ trong đường vào xóm núi thấp thoáng những bóng người đờ đẫn trở về.

 Biên Thùy – Nguồn: Báo công lý

Bài viết cùng chủ đề

Viết bình luận